HIỆN TRẠNG HÀM LƯỢNG Fe HỆ THỐNG SÔNG HỒNG

Friday, 27 June 2014 16:50

Thực hiện: Th.S.Bùi Hoài Thanh, Th.S.Nguyễn Hữu Hiếu

Trung tâm Mạng lưới Khí tượng Thủy văn và Môi trường

            Nước – nguồn tài nguyên vô cùng quý giá nhưng không phải vô tận. Mặc dù lượng nước chiếm hơn 97% bề mặt trái đất nhưng lượng nước có thể dùng cho sinh hoạt và sản xuất rất ít, chỉ chiếm khoảng 3%. Nhưng hiện nay nguồn nước này đang bị ô nhiễm trầm trọng  do nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do hoạt động sản xuất và ý thức của con người. Tài nguyên nước Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các khu công nghiệp và đô thị. Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu về hiện trạng hàm lượng thông số Fe (sắt) trên hệ thống sông Hồng trong một vài năm gần đây.

1. Đặt vấn đề           

            Nước thải của nhiều ngành gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Do phải tuân thủ Luật môi trường, nhiều doanh nghiệp đã xây dựng các hệ thống xử lý nước thải độc hại. Tuy nhiên, các hệ thống này vận hành không hiệu quả hoặc vận hành đối phó dẫn đến tình trạng nước thải sau xử lý thải ra môi trường vẫn chưa đạt tiêu chuẩn và gây hậu quả ô nhiễm môi trường nặng nề. Các con sông là đối tượng chính tiếp nhận nguồn thải ô nhiễm này.

            Hiện nay chất lượng nước ở vùng thượng lưu các con sông chính Việt Nam còn khá tốt. Tuy nhiên ở các vùng hạ lưu đã và đang có nhiều vùng bị ô nhiễm (ví dụ chất lượng nước sông Tiền, sông Hậu và sông Sài Gòn). Chính vì vậy mà hiểu biết đúng đắn và xác thực về chất lượng nước sông của hệ thống sông ngòi Việt Nam là vấn đềvô cùngquan trọng. Trong phạm vi khuôn khổ bài báo chỉ đề cập đến hiện trạng hàm lượng Fe hệ thống sông Hồng dựa trên số liệu môi trường của các trạm Thủy Văn, Môi trường thuộc Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc Gia đặt trên hệ thống sông.

2. Mạng lưới sông ngòi hệ thống sông Hồng

            Hệ thống sông Hồng là một mạng lưới các con sông, tập hợp quanh con sông chính là sông Hồng, góp nước cho sông Hồng hoặc nhận nước của con sông này đổ ra biển Đông. Hệ thống sông Hồng tạo nên phần lớn diện tích đồng bằng Bắc Bộ, một vùng bình nguyên tam giác châu thổ lớn thứ hai của Việt Nam.

Hình 1. Hệ thống sông Hồng

            Sông Hồng có tổng chiều dài 1.149 km với lưu vực 143.700 km2 bắt nguồn từ Trung Quốc và chảy vào Việt Nam qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định và đổ ra biển Đông tại cửa Ba Lạt giữa hai tỉnh Nam Định và Thái Bình.

            Các phụ lưu chính của sông Hồng trên lãnh thổ Việt Nam có thể kể đến là sông Đà, sông Lô. Trong khuôn khổ bài viết này chỉ đề cập đến chất lượng nước sông của hệ thống sông Hồng tại dòng chính của sông Hồng và hai phụ lưu chính này.

Hệ thống sông Hồng là hệ thống sông lớn thứ hai ở nước ta, chỉ sau hệ thống sông Mê Kông. Nhưng nếu xét về phần diện tích lưu vực cũng như lượng dòng chảy được sinh ra trong lãnh thổ nước ta thì nó được xếp hàng đầu. Địa hình lưu vực thấp dần theo hướng tây bắc-đông nam, độ cao đường phân nước (ranh giới lưu vực) xung quanh hệ thống sông có độ cao khoảng 2000-3000 m ở lãnh thổ Trung Quốc và 1000-2000 m ở Việt Nam. Địa hình đồi núi chiếm phần lớn lưu vực với độ cao trung bình 1090 m. Phần phía tây của lưu vực nằm trong lãnh thổ nước ta được giới hạn bởi khối núi ở biên giới Việt-Lào với những đỉnh núi cao trên 1800 m như Pu-đen-đinh (1886 m), Pu-sam-sao (1987m), về phía bắc có dãy núi Pu-si-lung (3076 m) nằm ở biên giới Việt-Trung, phía đông được giới hạn bởi cánh cung Ngân Sơn - Yên Lạc với những núi cao trên 1500m  như đỉnh Phia Bioc cao 1576 m. Trung và thượng lưu của hệ thống sông là những khối núi và cao nguyên. Đáng kể nhất là dãy Hoàng Liên Sơn kéo dài 180km từ biên giới Việt-Trung đến Vạn Yên  với đỉnh Phan-xi-păng cao 3143 m, Pu Luông 2985 m. Đó cũng là đường phân nước giữa sông Đà và sông Thao. Dãy núi Con Voi chạy gần song song với sông Thao, là đường phân nước giữa sông Thao với sông Lô. Các cao nguyên đá vôi có thể kể đến là các cao nguyên: Ta Phìn, Sín Chải, Sơn La, Mộc Châu trong lưu vực sông Đà, các cao nguyên Bắc Hà, Quản Bạ, Đồng Văn trong lưu vực sông Lô. Xen kẽ những cao nguyên, đồi núi là những thung lũng, bồn địa bằng phẳng như các bồn địa Nghĩa Lộ, Quang Huy. Vùng trung du được đặc trưng bởi địa hình đồi dạng bát úp với độ cao dưới 50-100 m. Hạ lưu sông Hồng kết hợp với hạ lưu sông Thái Bình đã tạo thành đồng bằng sông Hồng-sông Thái Bình. Như vậy, đồng bằng sông Hồng-Thái Bình (đồng bằng châu thổ Bắc Bộ) do phù sa của 2 hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp, địa hình bằng phẳng, hơi nghiêng ra biển theo hướng tây bắc - đông nam, trừ một số đồi có độ cao thường dưới 10 m. Dọc theo các triền sông có đê bao bọc, nên đồng bằng bị chia cắt thành những vùng trũng.

3.Hiện trạng hàm lượng Fe hệ thống sông Hồng từ năm 2010 đến năm 2012

            Việc hấp thụ quá nhiều sắt gây ngộ độc, vì các sắt II (Fe++) dư thừa sẽ phản ứng với các peroxit trong cơ thể để sản xuất ra các gốc tự do. Khi lượng sắt không đáng kể, cơ thể có một cơ thế chống oxy hóa để có thể kiểm soát quá trình này. Khi dư thừa sắt thì những lượng dư thừa không thể kiểm soát của các gốc tự do được sinh ra. Một lượng gây chết người của sắt đối với trẻ 2 tuổi là 3 gam sắt. Một gam có thể sinh ra sự ngộ độc nguy hiểm. Danh mục của DRI về mức chấp nhận cao nhất về sắt đối với người lớn là 45 mg/ngày. Đối với trẻ em dưới 14 tuổi mức cao nhất là 40 mg/ngày. Nếu sắt quá nhiều trong cơ thể (chưa đến mức gây chết người) thì một loạt các hội chứng rối loạn quá tải sắt có thể phát sinh, chẳng hạn như hemochromatosis.

            Nồng độ phù hợp của Fe theo quy chuẩn quốc gia (QCVN 08:2008/BTNMT) về chất lượng nước sông cột A1 là 0.5mg/l, cột A2 là 1mg/l.


Bảng 1. Hàm lượng Fe trung bình năm tại các trạm trên hệ thống sông Hồng

STT

           Năm           

Trạm

2010

(mg/l)

2011

(mg/l)

2012

(mg/l)

QCVN A1

(mg/l)

QCVN A2

(mg/l)

1

Lào Cai

0.52

1.11

0.58

0.5

1.0

2

Yên Bái

0.47

0.32

0.38

3

Ghềnh Gà

0.21

0.14

0.13

4

Vụ Quang

0.15

0.36

0.23

5

Mường Lay

0.27

0.26

0.42

6

Hòa Bình

0.33

0.20

0.19

7

Sơn Tây

0.33

0.44

0.34

8

Hà Nội

0.47

0.42

0.46

          Nguồn: Trung tâm Mạng lưới KTTV và Môi trường

            Theo bảng 1 ngoại trừ trạm Lào Cai, các trạm còn lại có giá trị trung bình năm của thông số Fe trên toàn hệ thống sông Hồng đều nằm trong giới hạn cột A1 của quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước sông. Hàm lượng Fe tại trạm Lào Cai đặc biệt cao hơn hẳn các trạm còn lại trong cả 3 năm 2010, 2011, 2012 và thậm chí năm 2011 hàm lượng Fe của trạm Lào Cai vượt giới hạn cho phép cột A2 của quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước sông và có sự biến động mạnh giữa các năm.

           

Biểu đồ 1. Hiện trạng hàm lượng Fe hệ thống sông Hồng

 

Biểu đồ 2. Hiện trạng hàm lượng Fe trung bình năm dọc theo dòng chính sông Hồng

(Nguồn: Trung tâm Mạng lưới KTTV và Môi trường)

Hàm lượng Fe tại trạm Lào Cai thậm chí vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn quốc gia cột B2 (2mg/l) về chất lượng nước sông vào ngày 24/2/2011 (6.890mg/l), ngày 21/9/2011 (2.499mg/l) và ngày 15/5/2012 (2.637mg/l) (cột B2 áp dụng chất lượng nước mục đích sử dụng cho giao thông đường thủy và các chất mục đích khác với yêu cầu chất lượng nước thấp).

Trạm Lào Cai thuộc khu vực thượng lưu con sông Hồng là con sông chính của hệ thống sông Hồng, là nơi giáp ranh với địa phận Trung Quốc và tiếp nhận nước sông  hệ thống sông Hồng từ địa phận Trung Quốc. Khu vực đặt trạm không có nhà máy xí nghiệp và khu vực sản xuất của Việt Nam. Hiện tượng hàm lượng Fe vượt quá nhiều lần so với quy chuẩn quốc gia cột B2 được đánh giá nguyên nhân ô nhiễm từ phía Trung Quốc.

Nồng độ Fe dọc theo dòng sông chính tính từ phần thượng lưu (trạm Lào Cai) giảm dần theo chiều dài dòng sông và tới địa phận Hà Nội có chiều hướng tăng nhẹ được giải thích do phần thượng lưu bị ảnh hưởng ô nhiễm Fe từ phía Trung Quốc, nồng độ Fe được trung hòa dần theo chiều dài dòng sông chính; Tuy nhiên tới địa phận Hà Nội do có nhiều nhà máy, xí nghiệp tập trung tại khu vực này nên nồng độ Fe gia tăng tại đây.

 

4. Kết luận

            Để đánh giá đúng đắn hiện trạng chất lượng nước hệ thống một con sông cần đánh giá dựa trên nhiều chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa và đánh giá trong một khoảng thời gian rộng. Trong khuôn khổ bài báo mới chỉ đề cập đến hiện trạng giá trị thông số Fe trong thời gian từ năm 2010 đến 2012 là một khía cạnh nhỏ trong toàn cảnh về chất lượng môi trường hệ thống sông Hồng.

            Một điều đáng lưu tâm đó là tất cả những trạm môi trường nước sông được xét trong bài báo được xây dựng nhằm đánh giá chất lượng nước môi trường nền của hệ thống sông Hồng, hàng tháng đo đạc và lấy mẫu phân tích vào ngày 15 cho tất cả các trạm môi trường trên hệ thống, mặc dù vậy vẫn có nhiều giá trị Fe đo được trong một vài thời điểm thậm chí vượt giới hạn cho phép cột B2 của quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước sông. Bài toán được đặt ra là tại những điểm ô nhiễm cục bộ (nơi có các nguồn thải đổ vào sông) thì giá trị Fe đo đạc được tại đó có thể lớn hơn nhiều, do đó cần có các biện pháp để hạn chế ô nhiễm tại các nguồn thải vào sông.

            Bài viết này mới chỉ cung cấp cho bạn đọc sơ bộ hiện trạng môi trường hệ thống sông Hồng. Mong muốn của tác giả trong những bài viết tới sẽ cung cấp thêm những thông tin môi trường của hệ thống sông Hồng thông qua các chỉ tiêu môi trường chưa được đề cập trong bài viết này.

 

T.H

 

Rate this item
(1 Vote)

Danh mục

Liên kết

 

 

Lịch

« March 2017 »
Mon Tue Wed Thu Fri Sat Sun
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31